- XAUUSD
- XAGUSD
- WTI
- USDX
Thị trường
Phân tích
Người dùng
24x7
Lịch kinh tế
Học tập
Dữ liệu
- Tên
- Mới nhất
- Trước đây












Tín hiệu VIP
Tất cả
Tất cả


Bộ Tài chính và một cơ quan khác thông báo rằng các cá nhân nước ngoài nhận cổ tức và tiền thưởng từ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ phải nộp thuế thu nhập cá nhân theo mức thuế suất 20% dành cho "thu nhập từ lãi, cổ tức và tiền thưởng".
Chỉ số GDP quý II của Ý, so với quý trước, đạt 0,2%, phù hợp với dự báo 0,2% và không thay đổi so với mức 0,20% của quý trước.
Sàn giao dịch kim loại Luân Đôn (LME): Tồn kho thiếc giảm 25 tấn, tồn kho đồng giảm 775 tấn, tồn kho chì giảm 1.575 tấn, tồn kho nhôm không thay đổi, tồn kho niken tăng 174 tấn và tồn kho kẽm tăng 1.175 tấn.
Công ty chứng khoán Yamato: GDP quý II của Nhật Bản có thể được điều chỉnh tăng lên nhờ chi tiêu vốn mạnh mẽ.
Bộ Ngoại giao Nga: Việc Mỹ triển khai hệ thống tên lửa tầm trung tại Nhật Bản là không thể chấp nhận được.
Giá vàng vẫn ở dưới mức 4.500 USD, chịu áp lực bởi kỳ vọng ngày càng tăng về việc tăng lãi suất.
Hầu hết các lãi suất liên ngân hàng (IAO) đều tăng, trong đó lãi suất kỳ hạn một năm đạt mức cao nhất trong gần hai tuần.
Chỉ số PMI sản xuất cuối cùng của Đức trong tháng 8 đạt 54,3, cao hơn so với dự báo 54,1 và chỉ số trước đó là 54,1.
Các báo cáo cho thấy Ấn Độ đã nối lại đàm phán đầu tư với Zambia liên quan đến các mỏ đồng và khoáng sản quan trọng.
Thành viên Hội đồng Thống đốc ECB Kohl: Chúng ta phải đảm bảo rằng lạm phát không vượt quá mục tiêu 2% trong trung hạn.
Chỉ số PMI sản xuất cuối cùng của Pháp trong tháng 8 đạt 51,1, thấp hơn so với dự báo 51,5 và mức 51,5 của tháng trước.
Thành viên Hội đồng Thống đốc ECB, ông Koch, cho biết: "Nếu tình hình này được xác nhận trong dự báo tiếp theo của ECB, tôi nghĩ sẽ cần phải tăng lãi suất thêm nữa và ngay lập tức."
Quan điểm của giới chuyên gia: Nhiều bất ổn bao trùm việc tăng lãi suất của Fed vào tháng 9; Khuyến cáo thận trọng đối với các khoản đầu tư trái phiếu dài hạn.
Thành viên Hội đồng Thống đốc ECB, ông Koch, cho biết rủi ro gia tăng lạm phát ở khu vực đồng euro gần đây đã tăng lên.
Tổng thống Mỹ Trump: Bạo lực ở Chicago đang lan tràn và mất kiểm soát, đạt mức cao kỷ lục. Tình hình chưa bao giờ tồi tệ hơn thế. Thành phố này sẽ sụp đổ nếu Thị trưởng hoặc Thống đốc không mời sự hỗ trợ của liên bang. Tôi đang chờ cuộc gọi đó.
Chỉ số PMI sản xuất của Ý trong tháng 8 đạt 49,6, cao hơn so với dự báo 51,3 và mức 51,3 của tháng trước.
Barclays: Việc đồng Won tăng giá có thể làm suy yếu các điều khoản thương mại thuận lợi của Hàn Quốc, gia tăng áp lực lên các nhà xuất khẩu.

Nam Phi: Cán cân thương mại (Tháng 7)T:--
D: --
T: --
Đức: CPI (Cuối cùng) MoM (Tháng 8)T:--
D: --
T: --
Đức: HICP (Sơ bộ) MoM (Tháng 8)T:--
D: --
T: --
Đức: HICP (Sơ bộ) YoY (Tháng 8)T:--
D: --
T: --
Mỹ: Chỉ số hoạt động kinh doanh của Dallas Fed (Tháng 8)T:--
D: --
T: --
Mỹ: Chỉ số đơn đặt hàng mới của Dallas Fed (Tháng 8)T:--
D: --
T: --
Tổng thống Hoa Kỳ Trump đã có bài phát biểu
Vương Quốc Anh: Chỉ số giá cửa hàng BRC YoY (Tháng 8)T:--
D: --
T: --
Hàn Quốc: Cán cân thương mại (Sơ bộ) (Tháng 8)T:--
D: --
Indonesia: PMI ngành sản xuất IHS Markit (Tháng 8)T:--
D: --
T: --
Hàn Quốc: PMI ngành sản xuất IHS Markit (Điều chỉnh theo mùa) (Tháng 8)T:--
D: --
T: --
Nhật Bản: PMI ngành sản xuất (Cuối cùng) (Tháng 8)T:--
D: --
T: --
Úc: Giấy phép xây dựng tư nhân MoM (Điều chỉnh theo mùa) (Tháng 7)T:--
D: --
T: --
Úc: Giấy phép xây dựng MoM (Điều chỉnh theo mùa) (Tháng 7)T:--
D: --
Úc: Giấy phép xây dựng YoY (Điều chỉnh theo mùa) (Tháng 7)T:--
D: --
T: --
Úc: Tài khoản vãng lai (Quý 2)T:--
D: --
T: --
Trung Quốc Đại Lục: PMI ngành sản xuất Caixin (Điều chỉnh theo mùa) (Tháng 8)T:--
D: --
T: --
Nhật Bản: Lợi suất đấu giá trái phiếu kho bạc kỳ hạn 10 nămT:--
D: --
T: --
Indonesia: Cán cân thương mại (Tháng 7)T:--
D: --
T: --
Indonesia: Tỷ lệ lạm phát YoY (Tháng 8)T:--
D: --
T: --
Indonesia: Lạm phát lõi YoY (Tháng 8)T:--
D: --
T: --
Ấn Độ: PMI ngành sản xuất HSBC (Cuối cùng) (Tháng 8)T:--
D: --
T: --
Nhật Bản: Chỉ số niềm tin người tiêu dùng hộ gia đình (Tháng 8)T:--
D: --
T: --
Nga: PMI ngành sản xuất IHS Markit (Tháng 8)T:--
D: --
T: --
Đức: Doanh số bán lẻ thực tế MoM (Tháng 7)T:--
D: --
Vương Quốc Anh: Chỉ số giá nhà ở Nationwide YoY (Tháng 8)T:--
D: --
Vương Quốc Anh: Chỉ số giá nhà ở Nationwide MoM (Tháng 8)T:--
D: --
Úc: Giá cả hàng hóa YoY (Tháng 8)T:--
D: --
T: --
Thổ Nhĩ Kỳ: PMI ngành sản xuất (Tháng 8)T:--
D: --
T: --
Ý: PMI ngành sản xuất (Điều chỉnh theo mùa) (Tháng 8)T:--
D: --
T: --
Khu vực Đồng Euro: PMI ngành sản xuất (Cuối cùng) (Tháng 8)T:--
D: --
T: --
Vương Quốc Anh: PMI ngành sản xuất (Sơ bộ) (Tháng 8)--
D: --
T: --
Ý: Tỷ lệ thất nghiệp (Điều chỉnh theo mùa) (Tháng 7)--
D: --
T: --
Vương Quốc Anh: Cung tiền M4 YoY (Tháng 7)--
D: --
T: --
Vương Quốc Anh: Cung tiền M4 MoM (Tháng 7)--
D: --
T: --
Vương Quốc Anh: Phê duyệt thế chấp (Tháng 7)--
D: --
T: --
Vương Quốc Anh: Cho vay thế chấp (Tháng 7)--
D: --
T: --
Ý: Tỷ lệ thất nghiệp hàng quý (Điều chỉnh theo mùa) (Tháng 7)--
D: --
T: --
Ý: HICP (Sơ bộ) YoY (Tháng 8)--
D: --
T: --
Khu vực Đồng Euro: CPI lõi (Sơ bộ) YoY (Tháng 8)--
D: --
T: --
Khu vực Đồng Euro: CPI lõi (Sơ bộ) MoM (Tháng 8)--
D: --
T: --
Nam Phi: PMI ngành sản xuất (Tháng 8)--
D: --
T: --
Khu vực Đồng Euro: HICP (Sơ bộ) YoY (Tháng 8)--
D: --
T: --
Khu vực Đồng Euro: Tỷ lệ thất nghiệp (Tháng 7)--
D: --
T: --
Brazil: GDP YoY (Quý 2)--
D: --
T: --
Mỹ: Doanh thu bán lẻ hàng tuần của Johnson Redbook YoY--
D: --
T: --
Brazil: PMI ngành sản xuất IHS Markit (Tháng 8)--
D: --
T: --
Canada: PMI ngành sản xuất (Điều chỉnh theo mùa) (Tháng 8)--
D: --
T: --
Mỹ: PMI ngành sản xuất IHS Markit (Cuối cùng) (Tháng 8)--
D: --
T: --
Mỹ: PMI ngành sản xuất ISM (Tháng 8)--
D: --
T: --
Mỹ: Chỉ số việc làm ngành sản xuất ISM (Tháng 8)--
D: --
T: --
Mỹ: Chỉ số đơn đặt hàng mới của ngành sản xuất ISM (Tháng 8)--
D: --
T: --
Mỹ: Cơ hội việc làm JOLTS (Điều chỉnh theo mùa) (Tháng 7)--
D: --
T: --
Mỹ: Chi phí xây dựng MoM (Tháng 7)--
D: --
T: --
Mỹ: Chỉ số sản xuất ISM (Tháng 8)--
D: --
T: --
Mỹ: Chỉ số hàng tồn kho ISM (Tháng 8)--
D: --
T: --
Mexico: PMI ngành sản xuất (Tháng 8)--
D: --
T: --
Mỹ: Tồn trữ dầu thô hàng tuần API--
D: --
T: --
Mỹ: Tồn trữ xăng dầu hàng tuần API--
D: --
T: --
Mỹ: Tồn trữ dầu thô hàng tuần API--
D: --
T: --
Mỹ: Tồn trữ sản phẩm chưng cất hàng tuần API--
D: --
T: --

















































Không có dữ liệu phù hợp
Xem tất cả kết quả tìm kiếm

Không có dữ liệu
Giao cắt tăng không mặc nhiên là điểm mua, giao cắt giảm cũng chưa chắc là đảo chiều. Bài viết phân tích SMA, EMA, chu kỳ bán rã, độ dốc chuẩn hóa theo ATR, bốn tình huống ngoại hối–vàng–cổ phiếu–hợp đồng tương lai cùng các bẫy kiểm định để xây dựng quy trình đọc tín hiệu có xác nhận và điểm mất hiệu lực rõ ràng.

Đường trung bình nguy hiểm nhất không phải lúc nó vô dụng, mà là lúc tín hiệu trông quá thuyết phục. Một cây nến tin tức đẩy giá xuyên qua cả hai đường, giao cắt tăng xuất hiện ngay sau đó và biểu đồ dường như xác nhận một xu hướng mới. Nhưng người mua đuổi giá có thể chỉ kịp tham gia đúng lúc thị trường bắt đầu hoàn lại cú sốc ban đầu. Ở một thời điểm khác, hình ảnh gần như giống hệt lại mở đầu cho xu hướng kéo dài nhiều tuần.
Công thức không đổi; bối cảnh đã đổi. Đường trung bình chỉ mô tả trọng tâm của dữ liệu quá khứ, hướng dịch chuyển của trọng tâm và khoảng cách hiện tại so với nó. Chỉ báo không biết vì sao lệnh đang vào thị trường, không chứng minh dòng tiền sẽ tiếp tục và cũng không quyết định mức rủi ro phù hợp.
Đây là bài số 2 trong chuyên đề “Nhập môn biểu đồ tài chính”. Nếu cần ôn lại OHLC, thân nến, bóng nến và cấu trúc đỉnh đáy, hãy đọc bài số 1 về cách đọc biểu đồ nến. Bài này không dạy mẹo “giao cắt là mua”, mà xây dựng một khuôn khổ có thể kiểm chứng và bác bỏ bằng dữ liệu.
Hãy so sánh hai giao cắt tăng. Tín hiệu thứ nhất hình thành giữa một biên độ hẹp: đường dài gần như phẳng, giá đã đổi bên quanh đường trung bình nhiều lần và khoảng trống phía trên bị chặn bởi đỉnh vùng. Tín hiệu thứ hai xuất hiện sau khi giá đóng cửa vượt vùng tích lũy dài ngày: đường chậm đã ngóc lên, phần lớn giá nằm phía trên và nhịp kiểm định không rơi trở lại vùng cũ. Nếu chỉ hỏi “đã cắt chưa”, hai tín hiệu giống nhau. Nếu hỏi “cắt trong trạng thái nào, tại vị trí nào và cấu trúc nào đang dẫn dắt”, chất lượng hoàn toàn khác.
Nên đọc tín hiệu theo ba tầng. Tầng thứ nhất là môi trường: xu hướng, đi ngang hay chuyển trạng thái. Tầng thứ hai là vị trí: giữa biên, sát ranh giới cấu trúc hay trong nhịp hồi của xu hướng. Tầng cuối cùng mới là kích hoạt: giao cắt, kiểm định hoặc đóng cửa trở lại phía thuận xu hướng. Phần lớn giao dịch kém bắt đầu từ việc đưa tầng cuối lên trước tầng đầu.
Hạ cấp tín hiệu ngay khi các đường phẳng và quấn vào nhau, giao cắt nằm giữa một vùng rõ ràng, hoặc toàn bộ chuyển động chỉ do một cây nến tin tức tạo ra mà không có đóng cửa tiếp diễn hay kiểm định.
SMA phân bổ trọng số bằng nhau cho N mức giá gần nhất:
SMA(N) = tổng N giá đóng cửa gần nhất ÷ N
Trong SMA 20 kỳ, mỗi giá đóng cửa chiếm 5%. Khi có nến mới, dữ liệu mới đi vào và dữ liệu cũ nhất bị loại bỏ ngay. Việc cắt bỏ cứng này tạo hiệu ứng cửa sổ: độ dốc SMA có thể đổi rõ chỉ vì một mức giá bất thường ở đầu cửa sổ vừa rời phép tính.
EMA giảm dần trọng số theo thời gian:
EMA = α × giá mới nhất + (1 − α) × EMA kỳ trướcα thường dùng = 2 ÷ (N + 1)
Với EMA 20 kỳ, α xấp xỉ 9,52%. Dữ liệu mới có ảnh hưởng lớn hơn, nhưng dữ liệu cũ không biến mất đột ngột mà để lại một đuôi trọng số. Có thể hình dung bằng chu kỳ bán rã: ảnh hưởng của một mức giá trong EMA 20 kỳ giảm còn một nửa sau khoảng 7 nến; EMA 50 kỳ khoảng 17 nến; EMA 200 kỳ khoảng 69 nến. Bán rã không phải ngày hết hạn, mà là thước đo tốc độ chỉ báo quên quá khứ.
Nói EMA luôn “ít trễ hơn” SMA là quá đơn giản. Theo cách đặt α phổ biến, tuổi bình quân của thông tin trong hai đường cùng kỳ khá gần nhau; khác biệt chính nằm ở phân bố trọng số. EMA phản ứng mạnh hơn với cú sốc mới và cũng dễ đổi hướng trong nhiễu. SMA ổn định hơn nhưng chịu tác động khi dữ liệu cũ rời cửa sổ. Cả hai đều là bộ lọc trễ: giảm kỳ giúp phản ứng nhanh hơn nhưng phải trả giá bằng nhiều tín hiệu giả hơn.
Các mốc 20, 50, 100 hay 200 được theo dõi rộng rãi vì thói quen thị trường, không phải vì chúng là định luật tự nhiên. 20 nến ngày tương ứng khoảng 20 phiên; 20 nến bốn giờ là 80 giờ giao dịch; 20 nến mười lăm phút là 5 giờ giao dịch. Việc quy đổi thành bao nhiêu ngày còn tùy giờ giao dịch, kỳ nghỉ và cách nhà cung cấp cắt nến. Vì vậy, hãy xác định thời hạn quyết định trước rồi mới chọn bộ nhớ cho chỉ báo.
Không thể so trực tiếp việc vàng tăng 10 USD, chỉ số tăng 10 điểm và EUR/USD dịch chuyển vài pip. Độ dốc nên được đặt trong tương quan với biến động của chính tài sản:
Độ dốc chuẩn hóa = (MA hiện tại − MA cách đây k nến) ÷ (k × ATR)Khoảng cách chuẩn hóa = (giá hiện tại − MA) ÷ ATR
Khoảng cách +1,5 ATR nghĩa là giá nằm cao hơn đường khoảng một rưỡi biên độ thực trung bình. Tuy nhiên, không có ngưỡng phổ quát. Cao hơn hai ATR trong vùng đi ngang có thể là trạng thái kéo giãn; cùng khoảng cách đó sau phá vỡ với đường chậm đang dốc lên có thể phản ánh xu hướng tăng tốc. Khoảng cách chỉ có ý nghĩa sau khi trạng thái thị trường đã được xác định.
Một xu hướng đáng tin thường kết hợp ba dấu hiệu: độ dốc chuẩn hóa duy trì cùng hướng, giá ở một phía của đường trong phần lớn thời gian và chênh lệch giữa đường nhanh–chậm tiếp tục mở rộng. Khi độ dốc gần bằng không, giá đổi bên liên tục và các đường bện lại, nên coi thị trường là đi ngang cho đến khi có bằng chứng khác.
Trước dữ liệu việc làm, lạm phát hoặc quyết định của ngân hàng trung ương, EUR/USD có thể bị nén trong biên hẹp. Tin ra tạo một hoặc vài nến lớn, đường ngắn quay đầu và giao cắt xuất hiện sau khi đoạn dịch chuyển đầu tiên gần hoàn tất. Mua đúng lúc giao cắt có thể bắt đầu một xu hướng thật, nhưng cũng có thể là mua tại mức báo giá cực đoan trước khi thanh khoản bình thường trở lại.
Điều kiện xác nhận nên gồm: nến đóng ngoài biên thay vì chỉ để lại bóng dài; đường chậm ở khung cao hơn đã có độ dốc thuận chiều; kiểm định giữ được ranh giới cũ; chênh lệch hai đường tiếp tục mở rộng; spread và trượt giá trở lại mức có thể thực thi. Kịch bản mất hiệu lực khi giá đóng trở lại biên cũ, giao cắt bị đảo trong vài nến hoặc đáy/đỉnh cấu trúc vừa hình thành bị phá.
Ngoại hối giao ngay là thị trường phi tập trung. Không tồn tại một giá đóng cửa hay khối lượng toàn cầu duy nhất; nguồn báo giá, múi giờ cắt ngày, cực trị và spread có thể khác nhẹ. “Khối lượng” trên nhiều biểu đồ chỉ là số lần báo giá thay đổi, không phải toàn bộ lượng giao dịch thế giới. Vì thế, chỉ nên dùng nến đã hoàn tất và phải biết rõ nguồn dữ liệu trước khi so tín hiệu.
Giữa các sự kiện lớn, vàng có thể dao động lâu trong một vùng. Đường ngắn và đường trung bình phẳng rồi cắt nhau liên tục. Giao cắt tăng xuất hiện gần cận trên, giao cắt giảm lại gần cận dưới; khoảng lợi nhuận tiềm năng không đủ bù dừng lỗ, spread và trượt giá. Biểu đồ nhiều tín hiệu không đồng nghĩa thị trường có nhiều thông tin.
Bốn dấu hiệu của môi trường này là: đường chậm gần như không có độ dốc; thời gian giá nằm trên và dưới đường khá cân bằng; chênh lệch nhanh–chậm liên tục đổi dấu nhưng không mở rộng; đỉnh đáy của vùng ổn định hơn hướng giao cắt. Chừng nào các đặc điểm đó còn giữ, giao cắt chỉ nên được xem là nhiễu nội vùng.
Ngược lại, không nên bán chỉ vì vàng đã cách đường trung bình hai ATR. Nếu giá phá đỉnh, đường chậm bắt đầu tăng và khoảng cách các đường mở rộng, độ lệch có thể là động lượng. Luận điểm hồi quy chỉ mạnh hơn khi đường chậm phẳng, giá bị từ chối ở ranh giới vùng và đóng cửa quay lại bên trong. Điều kiện mất hiệu lực phải đặt tại cấu trúc, không đặt ở cảm giác “đã đi quá xa”.
Một cổ phiếu hoặc chỉ số vẫn tạo đỉnh và đáy cao dần trên biểu đồ ngày, trong khi nhịp chốt lời khiến đường ngắn trên khung giờ cắt xuống đường trung hạn. Động lượng giảm ngắn hạn là thật, nhưng có thể chỉ là nhịp giải phóng rủi ro trong xu hướng lớn. Nó trở thành bằng chứng đảo chiều đáng kể hơn khi biểu đồ ngày cũng tạo đỉnh thấp hơn, phá đáy quan trọng và đường dài bắt đầu phẳng.
Quy trình đa khung nên cố định: khung cao xác định trạng thái, khung trung nhận diện hồi hay tái khởi động, khung thấp chỉ dùng để thực thi và đặt mức vô hiệu. Dùng xu hướng ngày để vào lệnh nhưng thoát vì một giao cắt năm phút là sự lệch pha giữa luận điểm và quyết định. Đặc biệt, chỉ được sử dụng giá trị của nến khung cao đã đóng; lấy giá trị cuối cùng của nến chưa hoàn tất để kiểm định lịch sử sẽ tạo thiên lệch nhìn trước.
Dữ liệu cổ phiếu còn chịu tác động của gap báo cáo, chia tách, gộp cổ phiếu và cổ tức. Nghiên cứu xu hướng ít nhất phải dùng dữ liệu đã điều chỉnh chia tách và nêu rõ có điều chỉnh cổ tức hay không; giá lịch sử sau điều chỉnh không phải mức danh nghĩa đã giao dịch lúc đó. Một giao cắt đẹp trên dữ liệu sai chuẩn không có giá trị thực thi.
Ở cuối xu hướng dầu thô hoặc hàng hóa, các đường nhanh–trung–dài vẫn có thể xếp theo thứ tự tăng trong khi giá không tạo được đỉnh mới, nến hồi ngắn dần và đáy điều chỉnh bắt đầu thấp hơn. Đường trung bình còn đẹp vì nhiều mức giá tăng cũ vẫn nằm trong phép tính. Cấu trúc giá thường suy yếu trước, độ dốc phẳng sau và giao cắt giảm xuất hiện cuối cùng.
Vì vậy, thứ tự tăng chỉ cho biết bên mua đã chiếm ưu thế trong quá khứ; nó không chứng minh rủi ro hiện tại còn thấp. Khi giá thất bại ở đỉnh, độ dốc giảm và chênh lệch hai đường thu hẹp, cần đánh giá lại dừng lỗ, quy mô vị thế và bảo vệ lợi nhuận trước khi chờ giao cắt.
Hợp đồng tương lai hết hạn nên biểu đồ dài hạn thường dùng chuỗi liên tục. Quy tắc chuyển tháng, chọn hợp đồng chủ lực và phương pháp điều chỉnh lùi hoặc tiến có thể thay đổi đường lịch sử; chênh lệch giữa hai tháng còn tạo gap giả nếu ghép thô. Chuỗi liên tục hữu ích cho nghiên cứu xu hướng nhưng mức giá điều chỉnh không nhất thiết từng giao dịch. Trước khi đặt lệnh phải quay lại hợp đồng cụ thể, kiểm tra khối lượng, vị thế mở, giá thanh toán và lịch chuyển tháng.
Giá không bật lên vì phải tuân theo một đường cong. Hiệu ứng “kiểm định MA” thường là kết quả của xu hướng còn bền, nhiều người cùng theo dõi vùng giá vốn gần nhau và đường trung bình trùng với đỉnh đáy cũ hoặc vùng phá vỡ. Vì nguồn giá và biến động khác nhau, nên xem đó là một dải quanh đường, chẳng hạn theo một phần ATR, thay vì yêu cầu chạm đúng một điểm.
Một lần kiểm định có chất lượng khi xu hướng khung cao còn nguyên, đường chậm chưa đổi hướng, nhịp hồi không phá cấu trúc, giá đóng trở lại phía thuận xu hướng và sau đó tạo đỉnh hoặc đáy mới. Nếu đóng cửa xuyên vùng đồng thời phá điểm cấu trúc, luận điểm phải bị vô hiệu; đổi từ MA 20 sang 21 hay 34 để “đỡ” lại giá chỉ là điều chỉnh câu chuyện theo kết quả.
| Cách nói phổ biến | Câu hỏi cần kiểm tra |
|---|---|
| Giao cắt tăng là điểm mua | Đường chậm có dốc lên, vị trí có hợp lý và chênh lệch sau cắt có mở rộng không? |
| Giao cắt giảm là đảo chiều | Đó là nhịp hồi khung thấp hay cấu trúc khung cao đã thật sự bị phá? |
| Giá xa MA chắc chắn hồi | Khoảng cách theo ATR thuộc xu hướng tăng tốc hay kéo giãn trong vùng? |
| Thứ tự tăng nghĩa là ít rủi ro | Giá còn tạo đỉnh mới, độ dốc còn tăng và khoảng dừng lỗ còn hợp lý không? |
Không nên chỉ báo cáo tỷ lệ thắng và lợi nhuận cộng dồn. Cần xem mức sụt giảm tối đa, số vòng quay, kỳ vọng mỗi giao dịch, thời gian nắm giữ, độ nhạy với chi phí và kết quả ngoài mẫu. Nếu lợi thế biến mất chỉ sau một mức trượt giá thực tế, đó chưa phải lợi thế có thể giao dịch.
Kết luận trong 30 giây: xu hướng rõ, vị trí hợp lý, các khung không mâu thuẫn với thời hạn nắm giữ và giá đã xác nhận thì mới chuyển sang đánh giá giao dịch. Xu hướng có nhưng vị trí xấu hoặc thiếu xác nhận thì quan sát. Đường phẳng, giao cắt giữa vùng hoặc chuyển động chỉ do một nến tin tức thì bỏ qua.
Cách dùng đường trung bình chuyên nghiệp không phải hỏi “giá chạm đường nào sẽ tăng”, mà dùng độ dốc để mô tả hướng, khoảng cách ATR để mô tả vị trí, tần suất giao cắt để nhận diện đi ngang và cấu trúc đa khung để xác định tầm nhìn. Chỉ báo không loại bỏ bất định, nhưng có thể biến trực giác mơ hồ thành một ngôn ngữ có quy tắc, có điều kiện xác nhận và có điểm mất hiệu lực.
Bài tiếp theo: hỗ trợ, kháng cự và phá vỡ giả—vì sao vùng giá nên được vẽ thành dải, thế nào là một cú phá vỡ có hiệu lực và khi nào chờ kiểm định lại làm rủi ro tăng lên.
Nội dung nhằm phổ cập kiến thức tài chính, không phải khuyến nghị giao dịch hay quyết định đầu tư. Dữ liệu lịch sử, tham số chỉ báo và kết quả kiểm định không bảo đảm hiệu quả tương lai.
Nhãn trắng
Data API
Tiện ích Website
Công cụ thiết kế Poster
Chương trình Tiếp thị Liên kết
Giao dịch các công cụ tài chính như cổ phiếu, tiền tệ, hàng hóa, hợp đồng tương lai, trái phiếu, quỹ hoặc tiền kỹ thuật số tiềm ẩn mức độ rủi ro cao, bao gồm rủi ro mất một phần hoặc toàn bộ vốn đầu tư, và có thể không phù hợp với mọi nhà đầu tư.
Trước khi quyết định giao dịch các công cụ tài chính hoặc tiền điện tử, bạn cần hiểu đầy đủ về rủi ro và chi phí giao dịch trên thị trường tài chính, thận trọng cân nhắc đối tượng đầu tư, và tiến hành tư vấn chuyên môn cần thiết. Dữ liệu trên trang web này không nhất thiết là theo thời gian thực hay chính xác. Dữ liệu và giá cả trên trang web không nhất thiết là thông tin do bất kỳ sở giao dịch nào cung cấp, nhưng có thể được cung cấp bởi các nhà tạo lập thị trường. Bạn chịu trách nhiệm hoàn toàn về tất cả quyết kết giao dịch bạn đã thực hiện. Chúng tôi không chấp nhận bất cứ nghĩa vụ nào trước bất kỳ tổn thất hay thiệt hại nào xảy ra từ kết quả giao dịch của bạn, hoặc trước việc bạn dựa vào thông tin có trong trang web này.
Bạn không được phép sử dụng, lưu trữ, sao chép, hiển thị, sửa đổi, truyền hay phân phối dữ liệu có trên trang web này và chưa nhận được sự cho phép rõ ràng bằng văn bản của Trang web này. Tất cả các quyền sở hữu trí tuệ đều được bảo hộ bởi các nhà cung cấp và/hoặc sở giao dịch cung cấp dữ liệu có trên trang web này.
Chưa đăng nhập
Đăng nhập để xem nội dung nhiều hơn
Đăng nhập
Đăng ký